Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

tác hại của rượu


"Hai tay nâng chén rượu đào. Bỏ ra thì tiếc uống vào thì say" Từ trước Công nguyên, con người đã biết uống rượu và không thiếu gì những lời hay ý đẹp về rượu, nhưng khổ nỗi thần lưu ly lại là thủ phạm của vô số những tai họa ngay trước mắt hay sau nhiều năm "kết bạn" với con người.

Không kể đến trường hợp uống nhầm phải rượu độc metilic mà chết hay những người không nghiện ngập bị say rượu etilic cấp tính có thể chết vì ngộ độc, gặp phải những tai nạn rủi ro khác hoặc làm bệnh có sẵn trong người bùng phát... mà nói đến những người nghiện rượu mãn tính.

Giống như nghiện morphin hay heroin khi lượng cồn trong máu hạ thấp. Người nghiện rượu mãn tính thấy cồn cào, biểu hiện trầm cảm, lo âu, sợ hãi mơ hồ, mất ngủ hay ngủ kém và có mộng mị kinh sợ; chân tay run, vã mồ hôi, tim đập nhanh (gọi là rối loạn thần kinh thực vật). Nếu nặng có thể co giật như người động kinh, có ảo giác (là những điều hoàn toàn không có) về nghe hay nhìn. Nhưng cứ như thuốc thánh, các biểu hiện trên biến mất khi uống một chén rượu!

Nghiện lâu các biểu hiện này càng nặng, vì thế chừng ít giờ lại phải uống một hai chén để ngăn chặn hay làm mất đi những hiện tượng đáng sợ này. Những triệu chứng này gọi là “hội chứng cai rượu” mà X.Gixlin đã mô tả từ lâu. Một hiện tượng lặp theo chu kỳ là: Trong thời gian ngắn người nghiện rượu uống nhiều hẳn lên, dẫn đến cơ thể suy nhược, các rối loạn toàn thân nặng (đánh trống ngực, khó thở, nôn, tiêu chảy) làm họ sợ rượu nên không uống hoặc uống ít. Nhưng sau đó họ uống trở lại, uống rất nhiều nên có nhà chuyên môn cho đó là cơn xung động uống rượu (xung động dữ dội, mạnh mẽ). Sau một thời kỳ dài (nhiều chu kỳ) khả năng dung nạp rượu của người nghiện hạ thấp dần, vì thế họ uống ít một nhưng thường xuyên.

Giáo sư Gixlin đã thống kê những hiện tượng “suy đồi do rượu”. Bắt đầu từ cảm xúc: Hai thái cực khoan khoái, huyên thuyên, vô tâm, quấy rầy, đùa cợt vô duyên và cáu gắt, cau có, nổi khùng, gây gổ, độc ác thường đổi chỗ cho nhau. Sau đó, đến sự suy đồi về đạo đức: vô trách nhiệm với nghề nghiệp, với người thân, tiêu hết tiền kiếm được vào rượu, ăn bám gia đình, đòi hỏi vô lý và ích kỷ cũng như không ngần ngại ăn cắp tiền, đồ vật của người thân để có rượu uống. Các quan hệ xã hội và với người thân tổn thất, tan vỡ, có khi mất việc làm, uy tín, địa vị xã hội hạ thấp.

Năm 1887, Giáo sư X.X. Korsakov đã mô tả một căn bệnh cảnh lâm sàng mà sau này được gọi là bệnh loạn thần Korsakov do rượu. Bệnh thường phát ở tuổi 50 - 60 sau nhiều năm uống rượu quá độ với đặc trưng là phức chứng quên (nhiều chứng quên phức tạp) trầm trọng và viêm nhiều dây thần kinh gây liệt, hoặc liệt và teo cơ, rối loạn cảm giác đau, đau các dây thần kinh... Bệnh này còn các triệu chứng khác như vô cảm xúc, bịa chuyện, hoang tưởng thường là ghen tuông hay bị hại, có ảo giác xúc giác và ảo giác về nghe (ảo thính). Người bệnh mất ngủ, mệt mỏi, sợ hãi, lo lắng, rối loạn thần kinh thực vật. Tư duy thủ cựu và trí tuệ giảm sút.

Ở Việt Nam, điều tra những người mắc bệnh này đến chữa trị tại Viện Sức khỏe tâm thần thấy họ uống 300 đến 450ml rượu một ngày hoặc cao hơn từ 500 đến 1.000ml và sớm nhất sau 5 năm (trung bình sau khoảng 7 năm) là xuất hiện bệnh này. Chưa hết, trường hợp sau đây là một hệ quả tất yếu của nghiện rượu mãn tính.

Anh Trần D là cán bộ của một bộ lớn ở Hà Nội, tuy mới khoảng 40 tuổi nhưng đã nghiện nặng, chân tay teo tóp mà mặt lại bung bủng như phù. Anh kể lại sau một lần xuất hiện “hội chứng cai” có vẻ nặng hơn lần trước, anh bị mất ngủ, nếu chợp mắt được thì thấy toàn ác mộng. Ban ngày thì toàn “nhìn” thấy hổ, báo, sư tử, quỷ dữ, quái vật, chuột cống, rắn độc, nhện độc, hay gián bò kín đất. Tai thì nghe thấy la hét, nhạo báng, dọa nạt, buộc tội mình, thấy như sâu bọ bò khắp người và có chỗ đau như bị chó cắn, xung quanh đều mờ mờ ảo ảo. Anh cảm thấy vô cùng khiếp sợ. Nhưng không chỉ có thế, anh thấy run ở lưỡi, rồi run chân tay, đến run cả toàn thân, mồ hôi vã đầm đìa, sốt cao. Gia đình phải đưa đến Bệnh viện Bưu điện để cấp cứu. Đo huyết áp thấy tăng cao.

Các bác sĩ cho biết những trường hợp như thế này có thể tử vong do trụy tim mạch hoặc viêm phổi. Y học gọi bệnh của anh D là sảng rượu cấp hay sảng run (Delirium tremens - nghĩa là mê sảng run rẩy), một bệnh cảnh trầm trọng nhất của các trường hợp loạn thần do rượu mà bất cứ người nghiện rượu mãn tính nào cũng có thể mắc phải sau 5 năm nghiện (theo Sumxki. N.G), hoặc sau 10 năm (theo Haug. J.O - Na Uy). Nếu không bị sảng rượu vẫn có thể phát sinh các bệnh loạn thần khác như ảo giác và hoang tưởng hoặc bệnh não do rượu. Tổ chức Y tế thế giới (OMS) thống kê có 10% những người nghiện rượu bị loạn thần. Lứa tuổi xuất hiện bệnh từ 30 - 40 tuổi (I.G. Urakov; T. Stancuchev - Liên Xô), trong số này có khoảng 15% dưới 30 tuổi (Urakov).

Ở Mỹ, theo điều tra của Kaplan và Sadock: 70% người lớn uống rượu, trong đó 12% uống hàng ngày và say nhiều lần trong tháng. Số người lạm dụng rượu và nghiện rượu ở thành phố nhiều hơn ở thị trấn và nông thôn, có xu hướng “trẻ hóa”. Tai nạn giao thông phần lớn do lái xe uống rượu gây ra.

7 nhà văn Mỹ nhận giải thưởng Nobel Văn học thì có 5 người nghiện rượu, một trong số đó nghiện nặng. Đây không có gì lạ vì giới văn nghệ sĩ thường lạm dụng rượu. Ở Trung Quốc, Lý Bạch là nhà thơ say nổi tiếng thế giới. Ở Việt Nam, nhà thơ Hoàng Trung Thông, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng là những ví dụ điển hình. Ở Australia, 90% người lớn uống rượu, 75% nam và 50% nữ uống thường xuyên, 30 - 35% học sinh uống thường lệ hoặc hàng tuần. Ở Nhật Bản lạm dụng rượu và nghiện rượu ngày càng tăng, năm 1965 số người nghiện nặng là 1,03 triệu, 1983 là hơn 2 triệu, 1988 là 2,19 triệu, 1994 là hơn 2,4 triệu...

Phụ nữ uống rượu cũng ngày một nhiều và năm 1994 là 10% số người lạm dụng rượu. 50% sinh viên uống rượu, 14% sinh viên nam và 13% sinh viên nữ nghiện rượu nặng. Từ năm 1963 Bộ Y tế Nhật Bản đã tổ chức khoa điều trị nghiện rượu trong bệnh viện. Ở Đức BV Neurologie Uchtepienge ĐR có 150 người điều trị nghiện rượu/180 giường bệnh, BV Krankenhans for Psychiatrie Bradenburg con số này là 300/1500. Nếu tính theo dân số, tỉ lệ người nghiện rượu ở Đức và Anh là 4,5%; Pháp 4%; Liên Xô cũ 5-6%, Australia 5%. Vì thế nhìn chung ở các nước phát triển có số giường điều trị nghiện rượu/tổng số giường bệnh tâm thần khoảng 10 - 30%.


-----
Bệnh do rượu


Rượu gây ra tình trạng lệ thuộc, rối loạn hành vi và hàng loạt bệnh tật, từ ung thư đến bệnh tim mạch. Bạn là tửu đồ? Hãy thử tìm hiểu những căn bệnh này để đừng lạm dụng rượu. 
Những bệnh khởi phát trong thời gian ngắn
Hôn mê do rượu
Triệu chứng xuất hiện khi hấp thụ một lượng rượu lớn trong một khoảng thời gian ngắn. Cơ thể mỗi người không phản ứng như nhau trước rượu. Khả năng chịu đựng của mỗi người tùy thuộc vào những yếu tố thể chất (nhất là trọng lượng) và cả thói quen. Vì vậy hôn mê do rượu thường thấy ở những người không thường xuyên uống rượu, có ngưỡng dung nạp tương đối thấp. Nạn nhân thường không nhận ra nguy cơ sắp đến. Ly này nối tiếp ly khác gây cảm giác say, đối tượng mất tự chủ, mất sự kiểm soát hành vi, lời nói và cuối cùng thiếp ngủ. Đôi khi hôn mê xảy ra vào giai đoạn này. Tình trạng nặng nhất là nạn nhân mất ý thức, không trả lời được những câu hỏi của người khác và không thể đánh thức. Người ta ghi nhận dấu hiệu suy hô hấp, giảm trương lực cơ, tụt huyết áp và hạ thân nhiệt. Cuối cùng là tiểu mất tự chủ vì cơ thắt kiểm soát bàng quang bị giãn. Người bị hôn mê do rượu cần được cấp cứu bằng cách bù nước và các vitamine và có thể làm ấm cơ thể nếu thân nhiệt hạ. Khi lượng cồn được hấp thụ quá lớn (trên 6g/1ít máu), bác sĩ có thể cho lọc thận. Hôn mê do rượu thường không để lại di chứng. Tình trạng này thường chỉ kéo dài vài giờ và bệnh nhân tỉnh lại sau đó. Di chứng tâm thần chỉ xảy ra trong trường hợp hôn mê kết hợp với một biến chứng khác.
Phá hủy cơ vân (rhadomyolyse)
Một rối loạn khác, nguy hiểm hơn nhiều cho sức khoẻ so với hôn mê do rượu, xảy ra đột ngột sau khi uống nhiều rượu: sự phá hủy cơ vân cấp tính. Khi ngủ, một người có thể ở trong tư thế cơ thể đè trên một chi hay một phần cơ thể. Điều này không có gì nghiêm trọng vì khi ngủ ta vẫn động đậy và thay đổi tư thế thường xuyên lúc ngủ. Ngược lại, khi ngủ lịm do say rượu, không hiếm trường hợp đối tượng vẫn giữ nguyên một tư thế suốt đêm. Phần cơ thể bị đè ép lâu khiến cho sự tuần hoàn máu bị chậm lại trong nhiều giờ. Khi tỉnh giấc, cử động, thay đổi tư thế, giải phóng cánh tay hay chân bị đè bởi trọng lượng cơ thể, máu lưu thông trở lại. Nhưng suốt một thời gian dài, các enzyme tích tụ trong phần chi bị cắt đứt tuần hoàn đột ngột được phóng thích khi thay đổi tư thế có thể gây ra rối loạn trầm trọng. Thận có nguy cơ bị tổn hại vì phải lọc quá nhiều enzyme cùng một lúc.
Rượu liên quan đến những tai nạn
Thương tích cơ thể thường là hệ quả trực tiếp của tình trạng quá chén. Khi say, đối tượng kém tự chủ trong các động tác, có cảm giác mình có sức mạnh phi thường. Họ nghĩ mình có thể nhảy 4 bậc thang hay lái xe với tốc độ 130km/giờ. Nguy cơ xảy ra tai nạn rất cao do ảo tưởng và sự thiếu chính xác trong các động tác.
Hội chứng thấm rượu trên phôi
Khi một phụ nữ có thai uống rượu, một phần rượu sẽ truyền trực tiếp sang phôi. Một ly rượu nhỏ cũng có thể gây hậu quả trên phôi vì phôi quá nhỏ và quá nhẹ so với một người trưởng thành. Hệ quả đối với thai nhi thật tệ hại vì nó có nguy cơ mắc hội chứng thấm rượu trên phôi, ở mức độ nặng hay nhẹ, trên bình diện thể xác và tâm thần. Trẻ sơ sinh sẽ nhỏ bé hơn và gầy còm hơn những đứa trẻ khác lúc chào đời và cả sau này vì chậm tăng trưởng. Khuôn mặt bé có những đặc điểm: đầu nhỏ, mắt hẹp, môi trên mỏng và không có rãnh giữa mũi và miệng. Trầm trọng hơn, những cơ quan nội tạng như não, tim, thận có nguy cơ dị dạng và trẻ thường chậm phát triển tâm thần.
Những bệnh xuất hiện về lâu dài
Bộ máy tiêu hóa bị tổn hại do hấp thụ rượu thái quá trong một thời gian dài. Bệnh có thể đột ngột xuất hiện ở mọi cơ quan, nhưng gan và thực quản thường bị trục trặc sớm nhất. Bệnh thường khởi phát bằng chứng gan nhiễm mỡ, tức là gan to ra và tích tụ mỡ. Ở giai đoạn này, bệnh không tác động nhiều trên hoạt động của gan nên bệnh nhân không nhận ra nhưng gan nhanh chóng bị xơ: những tế bào mỡ chết dần. Gan thường tự tái tạo nhưng trong trường hợp này những tế bào cũ đã chai cứng và trở nên vô dụng. Chức năng gan bị tổn hại dần dần. Giai đoạn cuối cùng của sự hóa xơ là xơ gan. Gan không thể bảo đảm chức năng lọc và trợ giúp tiêu hóa. Ung thư gan có thể là biến chứng của xơ gan, một trong những bệnh ung thư khó chữa trị. Viêm gan cấp tính bộc phát do rượu đột ngột làm xơ cứng tế bào gan . Những dấu hiệu đầu tiên là vàng da, mệt mỏi, có thể kèm biến chứng xuất huyết. Nếu không phát hiện kịp thời, tỷ lệ tử vong của những người mắc bệnh viêm gan này là 50% trong vòng 3 tháng.
Tuy cũng thường bị ảnh hưởng nơi những người nghiện rượu. Khoảng 80% trường hợp viêm tụy cấp tính có liên quan đến rượu. Tụy là cơ quan sản xuất insuline, giúp trung hòa đường được cơ thể hấp thụ. Nhiều cơn viêm cấp tính biến thành viêm tụy mạn tính. Việc sản xuất insuline giảm sút: bệnh tiểu đường xuất hiện cùng với những biến chứng khó chịu. Yết hầu, thanh quản, thực quản cũng bị tác động. Nguy cơ rất cao khi uống 4 ly rượu mỗi ngày. Hơn nữa, bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm cai rượu. Vì vậy, cần lưu ý đến những dấu hiệu nhỏ (đau, cảm giác lạ ở họng, miệng...) để phát hiện bệnh càng sớm càng tốt. Rượu cũng có thể gây viêm và xuất huyết bao tử vì nó ăn mòn màng nhầy bao tử. May thay, bệnh không biến thành ung thư bao tử!
Hệ tim mạch bị tổn hại do rượu
Người ta ghi nhận mối tương quan trực tiếp giữa lượng rượu hấp thụ và huyết áp. Có 2 cách giải thích trạng thái này: rượu làm cứng các mạch máu nên máu phải tăng áp lực để đi qua; nước sinh ra do dùng thức uống có cồn cũng có thể làm tăng sức ép trên thành các động mạch. Sau cùng, rượu thường đi kèm với thuốc lá và sự dư thừa trọng lượng, là hai yếu tố thường làm tăng huyết áp. Cả 3 yếu tố trên kết hợp sẽ gây tác hại khôn lường. Các nghiên cứu cho thấy nguy cơ nhồi máu cơ tim rất cao nếu uống trên 4 ly rượu/ngày. Nguy cơ tai biến mạch máu não cũng tăng cao do rượu, cả với những người uống rượu thường xuyên cũng như những người thỉnh thoảng mới uống rượu. Nguy cơ đột tử cũng tăng mà người ta chưa giải thích được tại sao. 
Rượu cũng gây rối loạn nhịp tim: tim tăng thể tích một cách bất thường, bệnh nhân có thể cảm thấy đau ở ngực, có cảm giác hồi hộp, mệt mỏi, ho về đêm và thấy khó thở.
Hệ thần kinh bị tổn hại
Hệ thần kinh sẽ bị tổn hại khi lượng rượu hấp thụ quá nhiều. Rượu làm rối loạn những kết nối giữa các tế bào thần kinh. Nếu sự việc chỉ xảy ra trong thoáng chốc, sự kết nối này sẽ được tái lập vài giờ sau đó. Nếu đối tượng uống rượu quá nhiều và thường xuyên, các kết nối ấy và cả những tế bào thần kinh sẽ bị tổn hại. Chắc hẳn bạn đã nghe nói đến mê sảng cấp do rượu (delirium tremens). Chứng này xảy ra không chỉ lúc uống rượu mà cả trong thời gian cai rượu nhưng lại thiếu kềm chế. Người bệnh run rẩy, bồn chồn, bị khích động và có ảo giác, mất lý trí, mất khả năng kiểm soát mọi hành vi. Rượu cũng có thể gây thương tổn cho não, về lâu về dài làm trí tuệ sa sút.
Viêm dây thần kinh có thể xảy ra do lệ thuộc rượu vì myéline (một chất bao quanh tế bào thần kinh, truyền thông điệp đến não) bị tổn thương. Bệnh khởi phát với cảm giác kiến bò ở các chi rồi sau đó cảm giác, đặc biệt là xúc giác, bị rối loạn. Cuối cùng là đi đứng loạng choạng hay khó khăn, cơ teo, phản xạ yếu. Nghiện rượu cũng được xem là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh động kinh muộn ở người trưởng thành, làm giảm sút chất lượng giấc ngủ, gây ra tình trạng ngủ gà ngủ gật, mất khả năng tập trung.
Rượu là nguyên nhân của nhiều bệnh ung thư
Mọi người đều biết rượu có thể làm khởi phát bệnh ung thư đường tiêu hóa, nhưng rượu cũng có vai trò trong những bệnh ung thư khác. Chẳng hạn ung thư phổi không chỉ liên quan đến thuốc lá.
Nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ ung thư phổi cũng tăng nơi những người không hút thuốc nhưng uống từ 15g rượu (tức một ly rưỡi) mỗi ngày. Ngoài ra, uống một lượng rượu lớn (trên 5 ly mỗi ngày) còn gây tiên lượng xấu trong việc điều trị bệnh ung thư này. Rượu cũng giữ vai trò đáng kể trong sự phát triển của ung thư vú, ngay cả khi chỉ uống một lượng rượu tối thiểu. Khi vào cơ thể, rượu biến thành acétaldéhyde, một chất gây ung thư. Rượu còn làm rối loạn cơ cấu điều tiết hormone, góp phần gây ra ung thư vú. Nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt cũng tăng khi uống trên 3 ly rượu mỗi ngày.
Những bệnh khác
Người ta ghi nhận hiện tượng suy giảm hệ miễn dịch nơi những người nghiện rượu. Đối tượng dễ bị nhiễm khuẩn và một khi đã khởi phát, bệnh cúm hay bệnh lao sẽ nặng hơn. Họ cũng dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn hậu phẫu. Dường như rượu có ảnh hưởng trực tiếp trên bạch huyết bào, những tế bào bạch cầu tạo nên hệ miễn dịch. Răng và miệng cũng bị ảnh hưởng: sâu răng, viêm lợi thường gặp nơi người uống rượu.
Tác dụng của rượu cũng dễ nhận thấy trên da, chẳng hạn như chứng đỏ mũi. Những mao mạch đỏ hiện rõ trên da, thường tập trung ở cánh mũi và gò má. Mụn trứng cá có thể nổi trên mặt, móng tay móng chân dễ gãy...
----


Rượu chiếm một vị trí nhất định trong lối sống của chúng ta, trong những dịp kỷ niệm và những ngày lễ đặc biệt cùng với phong tục nâng cốc truyền thống. Rượu thường có  trong các bữa ăn và không thể thiếu trong dạ tiệc. Với hầu hết mọi người, thật thú vị khi được uống rượu cùng bạn bè hoặc gia đình. Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy nếu uống rượu ở một mức độ vừa phải có thể mang lại đôi chút lợi ích, đặc biệt trong ngăn ngừa bệnh về tim.
Tuy nhiên, một số người thì liên miên nhậu nhẹt hoặc bữa ăn nào cũng rượu. Một số trở nên bận tâm về rượu. Họ luôn có cảm giác thèm rượu và uống thường xuyên hơn nhiều so với mức độ mà họ thừa nhận.

Tại sao một số người lại uống nhiều đến thế ?
Vì họ cứ uống mà không nhận biết được mình đang nghiện, bởi vì hành vi nghiện này được hình thành từ từ theo thời gian. Đôi khi họ buồn vì việc làm không theo ý muốn hoặc vì cuộc sống gia đình không êm ấm, hoặc vì cô đơn. Một số người uống để giải khuây vì họ cảm thấy phấn chấn hơn khi uống và một số thì uống chỉ vì thói quen.
Sống trong gia đình có người nghiện rượu thì dễ có xu hướng nghiện rượu nhiều hơn so với những người không có ai trong họ hàng bị nghiện rượu hoặc có thói quen uống rượu.
Đối với những người uống quá nhiều, rượu có thể làm phá huỷ cuộc sống của họ  bằng những hậu quả lâu dài ảnh hưởng tới: việc làm, sức khoẻ, tài chính, gia đình và bạn bè. Uống rượu quá nhiều có thể gây tổn hại sức khoẻ, nguy cơ mất việc làm, mất bạn bè và làm đau lòng những người thân yêu trong gia đình. Những người này thậm chí thường không nhận biết được họ đang uống quá nhiều và có thể hình thành thói quen khoan dung với rượu cũng như không hề ý thức được điều đó, hoặc cố gắng phủ nhận điều đó.
Phải làm gì nếu bạn nghĩ rằng bạn, hoặc ai đó mà bạn biết, đang có nguy cơ uống quá nhiều rượu.
Nếu bạn lo ngại rằng có thể bạn đang uống rượu nhiều hơn mức cần thiết, hoặc bạn biết ai đó ở gần bên bạn đang như vậy, bạn hãy nói với bác sĩ của bạn. Bác sĩ có thể cho bạn (hoặc bạn bè, người thân của bạn) lời khuyên xem có cần phải cắt giảm số lượng rượu uống hay không.

Thế nào là uống quá nhiều?
Uống qúa nhiều không nhất thiết phải là lúc nào cũng say khướt. Người ta có thể uống để thư giãn hoặc để tìm ra lối thoát khỏi một tình huống khó khăn. Đôi khi khó có thể biết được ai đó đang uống quá nhiều. Vì người ta dễ dàng có xu hướng phủ nhận hoặc bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo của hiện tượng này. Những người uống rượu tới say khướt có thể chỉ uống vào các dịp nghỉ cuối tuần mà không uống vào các ngày trong tuần. Dùng rượu kiểu này có thể gây hại không kém gì uống hàng ngày.

Tửu lượng bằng nào thì có thể gây hại? Không có con số thống kê. Quan trọng là uống rượu thường xuyên đến mức nào, uống rượu ở đâu và khi nào, tại sao lại uống rượu và rượu đã có ảnh hưởng gì tới cuộc sống và sức khoẻ của bản thân.

Bạn hãy tự hỏi mình những câu sau đây:
- Đã bao giờ bạn từng cho rằng bạn phải nên cắt giảm lượng rượu uống của mình?
- Đã bao giờ mọi người làm bạn khó chịu vì họ phê phán rằng bạn cứ hay uống rượu?
- Đã bao giờ bạn cảm thấy ngại ngần hoặc có lỗi về việc uống rượu của bạn?
- Đã bao giờ việc làm của bạn bị ảnh hưởng vì uống quá nhiều (chẳng hạn lỗi sai trong công việc, đi làm muộn hoặc không thể tiếp tục công tác được vì những hậu quả do rượu)?
- Có phải việc bạn uống rượu làm ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình và xã hội của bạn?
- Bạn có muốn ngừng hoặc cắt giảm lượng rượu uống của mình không?

Câu trả lời "có" cho bất kỳ câu nào trong số các câu hỏi trên chứng tỏ rằng bạn (hoặc bạn bè/người thân) của bạn đang uống quá nhiều.

Sự lệ thuộc
Đối với một số người, cắt giảm lượng rượu uống hoặc ngừng uống đột ngột có thể gây ra các triệu chứng khó chịu, chẳng hạn buồn nôn và đau đầu. Các bác sỹ gọi đó là hội chứng cai. Quan trọng là bạn đừng cố gắng tự mình bỏ rượu mà phải yêu cầu bác sĩ giúp đỡ để bác sĩ có thể giúp bạn làm mất các triệu chứng cai một cách an toàn và bạn dễ dàng bỏ được rượu hơn.

Cảm giác thèm rượu
Với những người trở nên lệ thuộc rượu, khi cố gắng bỏ rượu họ phải đấu tranh khổ sở với cảm giác thèm rượu; Sự thôi thúc muốn uống có thể trở nên không chịu nổi và đó là triệu chứng thèm rượu mà người ta thấy rất khó cưỡng lại được.

Điều trị
Hiện nay đã có thuốc giúp làm giảm thèm rượu và giúp bạn cắt giảm lượng rượu uống hoặc bỏ rượu được dễ dàng hơn mà không làm cho bạn bị mệt.
Một viên mỗi ngày, với tư vấn thích hợp và mong muốn thay đổi thói quen uống rượu của bạn, có thể giúp bạn kiểm soát tốt bản thân.
Bác sĩ của bạn có thể cung cấp thông tin giúp bạn về thuốc làm mất cảm giác thèm muốn này và cho bạn lời khuyên rằng thuốc có phù hợp với bạn hay không.
Bạn cũng sẽ cần đến sự giúp đỡ và thông cảm của gia đình, cần đi khám bác sĩ đều đặn để được hỗ trợ thường xuyên và chủ động giải quyết bất cứ vấn đề nào về sức khoẻ.
Bước đầu tiên là thừa nhận rằng bạn có thể có vấn đề. Vì lợi ích sức khoẻ của bạn, hãy tìm lời khuyên từ bác sĩ. Không có gì phải xấu hổ. Đi tìm tư vấn, bạn đã làm chủ được một tình huống mà tình huống này có thể trượt khỏi tầm kiểm soát của bạn.
Đừng để rượu điều khiển cuộc đời của bạn, nếu không thì: bữa nhậu tới đây của bạn dù chỉ là một thôi cũng có thể là quá nhiều rồi đấy.
-----

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
- Rượu gây ra nhiều tác hại về mặt cơ thể và tâm thần. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) loạn thần do rượu chiếm 10% các trường hợp nghiện rượu mãn tính.
- Thuật ngữ loạn thần do rượu được xác định bởi loạn thần xuất hiện và phát triển do hậu quả tác dụng trực tiếp của rượu lên não. Loạn thần phát triển chủ yếu do nhiễm độc rượu lâu dài gây tổn thương các cơ quan nội tạng và rối loạn chuyển hóa trong cơ thể. Loạn thần xuất hiện không những do ngộ độc rượu khi nồng độ rượu cao trong cơ thể mà ngay cả khi lượng rượu trong máu không có hoặc có rất thấp (Wictor M., 1953).
- Về lâm sàng loạn thần do rượu có thể chia ra: sảng rượu, ảo giác do rượu, hoang tưởng do rượu, hội chứng Korsakov do rượu, bệnh não do rượu... (Sumski N. G., 1963).
- Ảo giác do rượu là hình thái lâm sàng thường gặp sau sảng rượu, chiếm 5,6 - 22,5% các loạn thần có liên quan đến nghiện rượu mãn tính (Marozov G. V., 1974).
Tuổi bị bệnh thường gặp ở lứa tuổi 30 - 40 tuổi (Achte K., 1969). Ảo giác thường xuất hiện sau 10 năm uống rượu (Katralv. A. K., 1973). Tiến triển của ảo giác do rượu có thể cấp, kéo dài và có thể ảo giác mãn tính (Sumski N. G., 1983).
- Hoang tưởng do rượu thường gặp sau sảng rượu và ảo giác do rượu, chiếm 1% loạn thần do rượu (Achte, 1969). Về lâm sàng có paranoid do rượu và paranoia do rượu (hay gặp nhất là hoang tưởng ghen tuông).
- Xác định đặc điểm lâm sàng của loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế, chẩn đoán đúng và điều trị tích cực là hết sức cần thiết trong lâm sàng tâm thần học.

II. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ QUAN NIỆM, PHÂN LOẠI HOANG TƯỞNG và ẢO GIÁC DO RƯỢU
Hoang tưởng do rượu và ảo giác do rượu được biết đến từ lâu nhưng không được chú ý nhiều như sảng rượu và các bệnh não do rượu.
Nhiều tác giả coi hoang tưởng, ảo giác là những thể riêng biệt trong loạn thần do rượu. Marozov lại cho rằng hoang tưởng chỉ là một hình thái trong ảo giác do rượu. Một số tác giả chỉ nh ấn mạnh các hoang tưởng paranoia mà quên đi các hoang tưởng paranoid do rượu. Có tác giả lại quá mở rộng đưa vào hoang tưởng do rượu cả sảng rượu và say rượu bệnh lý.
Các tác giả Anh - Pháp quan niệm hoang tưởng, ảo giác là những biến chứng của nghiện rượu nghiện rượu mãn tính nên chỉ chú ý nghiên cứu về nghiện rượu mà ít quan tâm tới hoang tưởng, ảo giác do rượu.
Một số tác giả Đức (Meyer E., 1904) lại coi hoang tưởng, ảo giác do rượu là những thể tâm thần phân liệt tiềm tàng có khởi phát muộn, về sau có một số ý kiến phản đối quan niệm này.
Một số tác giả nghiên cứu nhằm xác định sự khác nhau giữa hoang tưởng, ảo giác do rượu và tâm thần phân liệt.
Một số tác giả Nga (Sumski N. G) xếp hoang tưởng, ảo giác vào 2 trong số 4 thể cổ điển của loạn thần do rượu, mô tả kỹ hoang tưởng, ảo giác do rượu và đã chia hoang tưởng, ảo giác do rượu thành những thể nhỏ theo lâm sàng và tiến triển.
Gần đây theo bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD. 10) hoang tưởng và ảo giác do rượu là hậu quả của nhiễm độc rượu lâu dài, là biến chứng của nghiện rượu mãn tính.
Theo cách phân loại cổ điển thì ảo giác do rượu được chia ra ảo giác cấp, ảo giác kéo dài và ảo giác mãn tính. Ảo giác cấp tính là những ảo giác tồn tại từ vài ngày đến 1 tháng. Ảo giác kéo dài là những ảo giác tồn tại từ 1 đến 6 tháng. ảo mãn tính là những ảo giác tồn tại trên 6 tháng.
Hoang tưởng do rượu được chia ra paranoid do rượu và paranoia do rượu.
Paranoid do rượu gồm có các hoang tưởng khác nhau có thể cấp tính, có thể kéo dài. Paranoia do rượu chủ yếu nghiên cứu về hoang tưởng ghen tuông do rượu.
Trong ICD - 10 hoang tưởng và ảo giác do rượu xếp vào mục rối loạn loạn thần do rượu (F10.5), trong đó hoang tưởng chiếm ưu thế ở mục F10.51 và ảo giác chiếm ưu thế ở mục F10.52. Trong DSM - IV của Mỹ, hoang tưởng và ảo giác do rượu được xếp vào mục rối loạn loạn thần do rượu (291), trong đó ảo giác chiếm ưu thế ở mục (291.3) và hoang tưởng chiếm ưu thế ở mục (291.5).

III. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

1. Các yếu tố thúc đẩy:
- Đa số các tác giả đều thừa nhận loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế thường gặp ở lứa tuổi 30 - 40 tuổi (chiếm 61,3% số bệnh nhân).
- Tỉ lệ nam/nữ có khác biệt (4: 1). Theo nghiên cứu của Marozov G. V. Hoang tưởng do rượu chủ yếu gặp ở nam giới, còn ảo giác do rượu gặp ở nữ nhiều hơn ở nam. Ở nước ta hoang tưởng và ảo giác do rượu rất ít gặp ở nữ.
- Loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế thường gặp ở những người nghiện rượu mãn tính sau 10 năm (chiếm 61,5% trường hợp), thường gặp ở những người có học vấn thấp và nghề nghiệp không ổn định, thường ở trong hoàn cảnh gia đình có người thân nghiện rượu.

2. Đặc điểm khởi phát:
Loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế có thể khởi phát cấp tính hay từ từ. Giai đoạn tiền triệu ngắn với khí sắc hoang tưởng, ảo tưởng lời nói và lo âu.
Đa số tác giả cho rằng khởi phát cấp tính đạt đến đỉnh cao của bệnh trong khoảng vài giờ đến vài ngày (92,4% các trường hợp khởi phát cấp tính trong khoảng vài ngày).

3. Biểu hiện lâm sàng:
a) Ảo giác: thường là những ảo giác thật, có thể có nhiều ảo giác trên một bệnh nhân, có thể cóảo thanh, ảo thị, ảo giác xúc giác, ảo khứu...
- Ảo thanh hay gặp nhất ở bệnh nhân, ảo thanh phần lớn được phát triển trên nền tảng những rối loạn khác kèm theo, đôi khiảo thanh xuất hiện vào ngày cuối cùng của cơn uống rượu. Ảo thanh thường xuất hiện vào chiều tối và lúc thiêm thiếp ngủ. Có thể làảo thanh thô sơ hayảo thanh lời nói.
Giọng nói có thể nói chuyện với bệnh nhân hay nói chuyện với nhau. Cường độảo thanh có thể là tiếng kêu hay tiếng thì thầm, giọng nói biến đổi nhưng thường có những chủ đề liên quan với nhau. ảo thanh nặng lên về chiều tối. Thoái triển đột ngột sau một giấc ngủ sâu hay giảm dần về cường độ và tần số, khiảo thanh hết hẳn thì bệnh nhân phê phán được trạng thái loạn thần đã qua.
- Ảo thị cũng thường gặp sauảo thanh, nội dungảo thị thường phù hợp với nội dungảo thanh và hoang tưởng. Khi ảo giác có sảng thì bệnh nhân thấy những côn trùng, động vật với kích thước thu nhỏ. Khi ảo giác kèm theo ý thức u ám bệnh nhân thấy những cảnh giống mộng nhưng chủ đề thường không hoàn chỉnh và mất tính thứ tự.
- Ảo xúc ít gặp hơnão thanh vàảo thị, thường xuất hiện cùng vớiảo thị, bệnh nhân thấy những côn trùng bò trên da thịt, chuột gậm nhấm chân tay mình gây cảm giác khó chịu. Đôi khiảo xúc là cảm giác những vật lạ trong miệng và họng.
- Ảo khứu và ảo vị chỉ gặp ở 9% bệnh nhân loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế.
b) Hoang tưởng: Paranoia do rượu được nhắc đến nhiều là hoang tưởng ghen tuông, được phát triển dần trên một nhân cách đã thoái hóa do rượu. Thoạt đầu những tưởng ghen tuông chỉ có trong khi say. Dần dần mới trở nên bền vững và xuất hiện cả những khi bệnh nhân không uống rượu. Từ chỗ nghi ngờ đi đến khẳng định vợ mình không chung thuỷ. Bệnh nhân rình mò, tra khảo, bắt vợ phải nhận lỗi. Bệnh nhân xác định người yêu của vợ mình thường là người quen biết.
Sự phức tạp của loạn thần có thể diễn ra theo 2 hướng:
+ Hoang tưởng ghen tuông là chủ đề duy nhất không thay đổi.
+ Ý tưởng hoang tưởng còn có nội dung khác liên quan đến sự thiệt hại vật chất (vợ lấy tiền cho người yêu, đầu độc bệnh nhân để có tự do với người yêu). Một số tác giả nhận thấy hoang tưởng ghen tuông thường xuất hiện sau loạn thần do rượu cấp tính, ở tuổi trung niên. Một số thống kê nhận thấy hoang tưởng ghen tuông gặp ở 40% bệnh nhân loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế.
- Paranoid do rượu được nhắc đến nhiều là hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng bị hại và các hoang tưởng cảm thụ có tính hình tượng cao.
- Hoang tưởng bị theo dõi chi phối mãnh liệt hành vi, cảm xúc của bệnh nhân.
- Thường cóảo tưởng lời nói, ảo tưởng cảm xúc vàảo thanh với nội dung đe doạ.
- Hành vi có tính xung động, nguy hiểm cho bản thân và xung quanh. Bệnh nhân bỏ chạy, phòng thủ, có khi tự sát. Trong những trường hợp kéo dài thì hành vi ít nguy hiểm hơn. Ít thấy các hoang tưởng bị theo dõi, bị chi phối bằng vật l như trong tâm thần phân liệt. Theo Soayka H., 1990 hoang tưởng bị theo dõi chiếm 32% bệnh nhân ảo giác do rượu.
- Hoang tưởng bị hại có thể cùng xuất hiện với hoang tưởng bị theo dõi hoặc hoang tưởng ghen tuông trong paranoid cấp do rượu. Theo thống kê của một số tác giả hoang tưởng bị hại chiếm 71% bệnh nhân loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế. Hoang tưởng bị hại có tỉ lệ cao nhưng không đặc hiệu cho loạn thần do rượu.
Ngoài ra ở bệnh nhân loạn thần do rượu còn thấy một số hoang tưởng khác như hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng nghi bệnh... Nhưng với tỉ lệ thấp.
- Hoang tưởng và ảo giác đôi khi cùng phối hợp với nhau trong một bệnh cảnh lâm sàng của loạn thần do rượu. Theo thống kê của Soayle M., 1990 chỉ có 13% bệnh nhân loạn thần do rượu có ảo giác đơn thuần.
c) Cảm xúc và hành vi:
Hoang tưởng và ảo giác do rượu thường chi phối mạnh mẽ hành vi, cảm xúc của bệnh nhân loạn thần do rượu ở những cơn cấp tính. Bệnh nhân lo âu, sợ hãi và căng thẳng cao độ, đôi lúc khoái cảm. Hành vi thường né tránh, chạy trốn hoặc phản ứng tấn công người xung quanh.
Trong những trường hợp kéo dài mãn tính cảm xúc của bệnh nhân thường bị ức chế, đôi khi trở nên cau có, giận dữ. Hành vi có khi thẫn thờ hoặc sững sờ, cảm giác không lối thoát nhưng cũng có khi trở nên độcác, thô bạo với người thân.
d) Các bệnh cơ thể phối hợp:
Bên cạnh các triệu chứng loạn thần còn thấy các bệnh cơ thể phối hợp như viêm loét dạ dày, xơ gan, rối loạn huyết áp và thần kinh thực vật. Ngoài ra ở nhiều bệnh nhân có biểu hiện trạng thái suy kiệt do nhiễm độc rượu lâu ngày.

IV. CHẨN ĐOÁN

1. Chẩn đoán xác định:
- Các hoang tưởng, ảo giác chiếm vị trí hàng đầu.
Không chẩn đoán khi có một sự ngộ độc hoặc cai rượu phối hợp, không tính đến những ảo giác do sử dụng chất gây ảo giác.
- Có bằng chứng hiển nhiên nghiện rượu là nguyên nhân liên quan đến bệnh.
- Những biểu hiện sau cho phép nghĩ đến một loạn thần không do rượu: hoang tưởng, ảo giác có trước khi dùng rượu, những giai đoạn tái diễn không liên quan đến rượu.
- Bệnh cảnh không diễn ra theo chiều hướng của một sảng tiến triển.

2. Chẩn đoán phân biệt:
a. Với tâm thần phân liệt:
- Về khởi phát hoang tưởng, ảo giác do rượu thường cấp tính, nhanh đi đến toàn phát trong khoảng vài giờ đến vài ngày. Còn trong tâm thần phân liệt khởi phát từ từ hơn, thường có giai đoạn ủ bệnh trước khi hoang tưởng, ảo giác phát triển rầm rộ.
- Ảo giác do rượu thường là những ảo giác thật, ảo giác trong tâm thần phân liệt thường là những ảo giác giả có khi có ảo giác thật. Ảo thanh ra lệnh, bình phẩm đặc trưng trong tâm thần phân liệt ít thấy ở bệnh nhân loạn thần do rượu.
- Hiện tượng bị động, bị chi phối hay tâm thần tự động đặc trưng cho tâm thần phân liệt ít thấy ở bệnh nhân loạn thần do rượu.
- Phải xem xét tiền sử, bệnh sử, sự biến đổi nhân cách để có thể phân biệt tâm thần phân liệt và loạn thần do rượu.

2. Với sảng rượu:
- Sảng rượu là một tình trạng cấp cứu, rối loạn toàn thân nặng nề hơn và có nhiều rối loạn chuyển hóa cơ thể, dễ dẫn đến tử vong.
- Sảng rượu thường kèm theo rối loạn ý thức đặc thù. Sảng rượu thường gặp hiện tượng run còn gọi là sảng run.
- Ảo giác trong sảng rượu thường gặpảo thị, thấy những con vật kích thước thu nhỏ.

V. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ

1. Giai đoạn loạn thần:
Việc điều trị nhằm làm mất trạng thái loạn thần và đề phòng các biến chứng.
- Các thuốc an thần kinh: Một số tác giả khuyên nên sử dụng Halopéridol vì chúng không ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa thải trừ của rượu. Một số tác giả khuyên nên lựa chọn phối hợp an thần kinh tùy theo bệnh cảnh lâm sàng. Ở nước ta theo thống kê ban đầu 66,6% bệnh nhân loạn thần do rượu điều trị đơn thuần một loại an thần kinh chủ yếu là Halopéridol, 33,3% bệnh nhân điều trị phối hợp với các thuốc an thần kinh như Halop ridol, Tisercin, Aminazin...
- Các thuốc bình thần: thường sử dụng Diazepam (Seduxen) để giải lo âu với liều lượng trung bình.
- Các thuốc chống trầm cảm: thường sử dụng thuốc chống trầm cảm ba vòng như Amitriptilin, hoặc các thuốc chống trầm cảm mới như Stablon, Prozax... Với liều thấp hoặc trung bình.
- Liệu pháp Vitamin: nghiện rượu lâu thường dẫn đến thiếu Vitamin B 1, giảm giữ trữ glucoza gây ra tình trạng suy kiệt. Dùng Vitamin B 1 liều cao khắc phục được tình trạng này, phòng ngừa tiến triển xấu dẫn đến các bệnh não do rượu.
- Liệu pháp tâm lý: nhằm mục đích thiết lập các mối quan hệ tin cậy, thông cảm với bệnh nhân, làm cơ sở cho việc điều trị tiếp theo.

------
Trong những lần nhậu nhẹt vui vẻ với bạn bè, đôi khi chúng ta uống tới bến mà quên đi mọi thứ xung quanh để rồi sáng hôm sau tỉnh dậy bạn không còn nhớ nổi những gì đã xảy ra từ khi bắt đầu say (xỉn). Những gì bạn nhớ nổi chỉ là nhận thức rất mơ hồ và hoang mang, thậm chí khi bạn bè nhắc lại buổi tối hôm đó bạn không thể tin mình đã làm những việc đó và cảm thấy xấu hổ. Đó chính là triệu chứng mất trí nhớ tạm thời khi bạn uống rượu/bia quá nhiều (black-out). Vậy nó bắt đầu từ đâu?

Chất cồn đã làm gì với não của tôi?

Bất kể ai uống rượu bia nhiều đều từng không dưới một lần bị black-out, mất trí nhớ tạm thời. Theo nghiên cứu, chứng bệnh mất trí nhớ tạm thời này được chia làm hai loại: en bloc và fragmentary. Mình chưa tìm được từ ngữ tiếng Việt mô tả đúng nhất về hai loại mất trí nhớ tạm thời này nên mình tạm gọi là loại nặng cho 'en bloc' và loại nhẹ cho 'fragmentary' trong bài viết. Loại nhẹ khiến người sau khi say không thể nhớ những gì đã làm trong khoảng thời gian ngắn trong khi loại nặng khiến họ không nhớ trong khoảng thời gian dài hơn.

Ngoài ra, với loại nhẹ thì người ta có thể nhớ lại sự việc đã làm hoặc đã xảy ra trước đó khi có ai đó nhắc lại nhưng loại nặng thì "bó tay", bất kể ai nhắc lại đi chăng nữa. Tựu chung lại, cả hai loại đều do một nguyên nhân gây ra, liên quan tới thần kinh học (neurophysiological). Khi chúng ta bị say rượu, khu hồi hải mã (hippocampus - nằm trong thùy thái dương) bị hủy hoại hóa học, đây là một phần của não trước có nhiệm vụ lưu giữ thông tin và hình thành ký ức trong trí nhớ dài hạn và khả năng định hướng trong không gian (link nguồn Wikipedia).

original. ​

Khi uống rượu, chất cồn trong rượu hoặc bia sẽ làm nhiễu cơ quản thụ cảm (trong khu hồi hải mã) có nhiệm vụ truyền dẫn chất glutamate mang thông tin giữa những nơ-ron (neuron) với nhau. Không chỉ làm nhiễu, chất cồn đôi khi còn làm cơ quản thụ cảm ngưng hoạt động. Quá trình này khiến các nơ-ron thần kinh tạo ra steroid - một loại hợp chất hữu cơ - chặn sự liên lạc giữa những nơ-ron này với nhau, kết quả là nó phá vỡ nhận thức dài hạn (long-term potentiation), một quá trình cần thiết cho việc học và lưu trữ thông tin của não người. Nếu đã từng bị say và bị mất trí nhớ tạm thời, bạn vẫn có thể làm các công việc bình thường như nói chuyện, đi lại hoặc ăn uống nhưng vấn đề là khi đó não của bạn không có khả năng tạo ký ức lúc đó để lưu lại. Như vậy sáng hôm sau bạn sẽ chẳng nhớ gì vì làm gì có ký ức nào đâu để mà nhớ lại.

Làm thế nào để tôi tránh mất trí nhớ tạm thời?

Để tránh tình trạng mất trí nhớ tạm thời, không gì tốt hơn ngoài việc ăn gì đó trước khi vào bàn nhậu. Không ăn gì sẽ khiến lượng cồn trong máu tăng nhanh hơn và não bạn sẽ chịu tác động nặng nề hơn. Ngoài ra, hãy uống từ từ và chậm cũng có thể tránh hoặc giảm tình trạng mất trí nhớ. Nghiên cứu chỉ ra rằng thủ phạm chính của chứng bệnh mất trí nhớ tạm thời là lượng cồn trong máu tăng đột ngột, khiến nồng độ cồn trong máu tăng ít nhất 0,15%. Con số đó lớn gấp hai lần lượng cồn cho phép để điều khiển phương tiện giao thông.

Bạn có biết tại sao phụ nữ uống rượu nhanh say và họ sợ say hơn nam giới chúng ta hay không? Một phần là vì lượng cồn trong máu của họ tăng với tốc độ nhanh hơn chúng ta khi uống rượu, bia. Nữ giới không chỉ có ít nước trong máu hơn nam giới để dung hòa lượng cồn này, họ còn có ít axit gastric dehydrogenase hơn, một loại enzim giúp giảm lượng cồn trong cơ thể.

Tóm lại, để tránh chứng bệnh mất trí nhớ tạm thời khi uống rượu, bạn không nên uống quá nhanh với lượng lớn rượu, bia. Lời khuyên thứ hai là nên ăn gì đó chứ đừng để bụng rỗng mà đi uống những thức uống có cồn đó vào người.

Bị mất trí nhớ tạm thời có đồng nghĩa tôi là người nghiện rượu?

Nghiên cứu đầu tiên được chuyên gia E. M. Jellinek thực hiện vào những năm 1940 cho thấy việc mất trí nhớ tạm thời có liên quan tới chứng nghiện rượu. Tuy nhiên, những nghiên cứu sau đó lại cho thấy điều ngược lại với tuyên bố trường hợp đó không phải lúc nào cũng đúng. Bất kể là bị mất trí nhớ tạm thời có đồng nghĩa bạn là người nghiện rượu hay không thì bạn cũng không nên thường xuyên để tình trạng đó xảy ra. Thường xuyên uống rượu và bị mất trí nhớ tạm thời đồng nghĩa những nguy cơ tổn thương dài hạn ngày một gia tăng.
------

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU

I/ KHÁI NIỆM

          Lạm dụng rượu lâu ngày thường đưa đến chứng nghiện rượu, khi đó rượu trở thành tác nhân gây hại cho con người và để lại những hậu quả cho cá nhân và xã hội.

- Về mặt cơ thể rượu gây ra các bệnh tim mạch, viêm loét dạ dày, viêm các dây thần kinh...

- Về mặt tâm thần rượu gây ra tình trạng phụ thuộc rượu, biến đổi nhân cách do rượu, loạn thần do rượu, mất trí do rượu...

          Trong những năm gần đây ngày càng xuất hiện nhiều trường hợp loạn thần do rượu phải vào điều trị tại các cơ sở bệnh viện tâm thần. Bệnh lý do rượu đã chiếm một tỷ lệ đáng kể. Hiện nay tỷ lệ lạm dụng rượu vào khoảng 30% dân số, tỷ lệ nghiện rượu khoảng 3,5%.

II/ RƯỢU ĐỐI VỚI CƠ THỂ

1. Sự hấp thu và bài tiết rượu

          Mức độ hấp thụ của rượu tùy thuộc vào loại rượu, lượng uống rượu nhiều hay ít, lượng thức ăn đi kèm khi uống, thể trạng của người uống, tâm trạng khi uống...

          Rượu được hấp thu nhanh khoảng 20% số lượng rượu được vào cơ thể ngay qua dạ dày, số còn lại được hấp thu qua ruột. Cơ thể thường có phản ứng tự bảo vệ khi nồng độ rượu đưa vào quá cao, niêm mạc của dạ dày sẽ bị kích thích tiết ra chất nhày làm giảm bớt sự hấp thu, cùng lúc đó môn vị co thắt ngăn rượu không xuống ruột, làm cho người uống buồn nôn và nôn rượu ra ngoài. Thức ăn chất đạm và chất béo làm chậm sự hấp thu của rượu, trái lại nước uống sẽ làm tăng sự hấp thu của rượu, vào máu rượu được phân phối khắp cơ thể. Nhiễm độc rượu là khi nào nồng độ rượu trong máu trên 0,15% thể tích
Khoảng 10% số lượng rượu đào thải ra ngoài bằng đường hô hấp, phần lớn được khử ở gan và đào thải qua nước tiểu.

2. Rượu đối với não

          Rượu không phải là một chất kích thích mà là một chất làm suy giảm cả hai quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương. Nhưng rượu làm mất ức chế mạnh hơn gây nên quá trình hưng phấn giả và vì vậy người uống rượu cảm thấy hưng phấn, đỡ lo âu, sợ hãi, hoạt động nhiều, nói nhiều, khả năng tự kiềm chế bản thân suy giảm nên lời nói thiếu tế nhị, xuồng xã, xàm xỡ, cử chỉ hoạt động thiếu chính xác.

          Khi nồng độ rượu trong máu là 0,3% thì vận động và tư duy, tri giác đều bị rối loạn. Khi nồng độ rượu lên tới 0,4% - 0,5% thì cả hai quá trình hưng phấn và ức chế đều bị suy giảm, người uống rượu bị bất tỉnh, hôn mê và khi nồng độ rượu lên đến 0,6% - 0,7% thì người uống rượu có thể tử vong.

3. Rượu ảnh hưởng đến các cơ quan khác

- Tác dụng lên tuyến yên, gây nên rối loạn sự tăng trưởng, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn chuyển hóa nước và muối khoáng.

- Gây viêm dạ dày, viêm tụy cấp, mãn tính.

- Tác hại đối với gan, gây xơ gan, thoái hóa mỡ gan.

- Các bệnh mạch máu,tim mạch, tăng lắng đọng choleterol ở mạch máu và ở tim gây xơ mỡ động mạch.

III. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

1. Say rượu thông thường

Say rượu thông thường hay say rượu đơn thuần là trạng thái nhiễm độc rượu cấp tính. Trạng thái này tiến triển thành ba giai đoạn, tuỳ theo độ rượu trong máu.

- Giai đoạn hưng phấn tâm thần - vận động (độ cồn trong máu = 1-2g/l)

Đặc trưng về lâm sàng là giảm ức chế, nói ba hoa, khí sắc không ổn định (khoái cảm không đúng lúc, đúng chỗ, buồn, dễ bị kích thích).

Biến đổi về thời gian phản ứng, về phán đoán và trí nhớ.

- Giai đoạn giảm phối hợp động tác (độ cồn trong máu >2g/l)

Đặc trưng bằng chứng lú lẫn tâm thần và hội chứng tiểu não (mất phối hợp vận động: dáng di lảo đảo, giọng nói lè nhè).

- Giai đoạn hôn mê (độ cồn trong máu >3g/l)

Hôn mê sâu, giãn đồng tử, mất phản ứng, hạ thân nhiệt, giảm huyết áp (nguy cơ trụy tim mạch).

2. Say rượu bệnh lý

Thể này rất ít gặp. Trong trạng thái say, có các biểu hiện:

hưng phấn - vận động: cơn giận dữ kịch phát không lý do hay vì một duyên cớ không đáng kể.

+ ảo giác (ảo thính, ảo thị): phân biệt với sảng rượu cấp.

+ hoang tưởng (ghen tuông, bị hại, tự buộc tội): nguy cơ xuất hiện cơn xung động đập phá, xâm hại bản thân hay xâm hại người khác.

+ cơn co giật liên quan với việc dùng rượu.

Đặc điểm khởi phát và tiến triển:

bắt đầu và kết thúc đột ngột (sau nhiều giờ tiến triển) bằng một giấc ngủ sâu; biểu hiện quên sau cơn; xuất hiện sau khi uống một lượng rượu lớn, nhưng cả khi chỉ uống một lượng rượu nhỏ;

+ nhân tố thuận lợi: có một bệnh tâm thần hay một bệnh não thực tổn; nhiều nguy cơ có hành vi nguy hiểm.

3. Nghiện rượu mạn tính

Chứng NR là trạng thái nhiễm độc rượu mạn tính do dùng rượu thường xuyên và nhiều năm. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp uống rượu thường xuyên đều xem là NR mạn tính.

Các triệu chứng đặc trưng là: hội chứng nghiện; hội chứng cai rượu; sự thay đổi mức dung nạp rượu; RLTT; biến đổi nhân cách và rối loạn toàn thân. Thời kỳ đầu, người NR chỉ dùng rượu từng lúc; sau đó thường thấy cơn cồn cào khó ở cả về buổi sáng nên phải uống rượu để làm hết cảm giác này; rồi xuất hiện tình trạng say liên miên, quên hết mọi sự. Thời kỳ này lượng rượu dùng rất lớn. Về sau, trong khi NR phát triển vì các rối loạn toàn thân nặng, buộc người nghiện phải giảm hoặc ngừng hẳn uống rượu. Cứ như vậy lúc tăng lúc giảm, lúc buộc phải ngừng rồi lại uống lại… cuối cùng người bệnh ngày càng suy nhược phải nằm tại giường.

Hội chứng nghiện: Chẩn đoán xác định  nghiện rượu khi có từ ba trở lên các đặc điểm sau: 

          1) Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng rượu.

          2) Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng rượu về mặt thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng rượu.

          3) Một trạng thái cai sinh lý (xem phần hội chứng cai) khi việc sử dụng rượu bị ngừng lại hay bị giảm bớt.

          4) Có hiện tượng tăng dung nạp rượu (Người nghiện rượu có thể dùng hàng ngày những lượng rượu lớn đủ để làm say hoặc gây ngộ độc nguy hiểm cho những người không nghiện rượu).

          5) Dần dần sao nhãng các thú vui trước đây để đi tìm và sử dụng rượu, dành thời gian ngày càng nhiều hơn để tìm kiếm hay sử dụng rượu.

6) Tiếp tục sử dụng rượu mặc dù đã có hậu quả có hại đối với gan và nhiều cơ quan khác do uống rượu. Có các trạng thái khí sắc trầm tiếp theo sau những thời kỳ sử dụng rượu nặng, hoặc suy giảm nhận thức do tác hại của rượu.

4. Xung động uống rượu (dipsomania)

Xung động uống rượu là những cơn uống rượu xuất hiện theo chu kỳ, đây là rối loạn hiếm gặp. Biểu hiện:

Xung động uống rượu xuất hiện thành cơn kịch phát, kéo dài vài giờ, vài ngày đến vài tuần, khởi phát và kết thúc đột ngột.

Trong cơn có biểu hiện tăng mức dung nạp rượu. Ngoài cơn thì chán ghét rượu.

Không có hiện tượng suy thoái nhân cách do rượu dù giai đoạn bệnh tiến triển đã lâu.

Phân biệt với xung động uống rượu giả: cơn uống nhiều rượu ở người NR mạn tính.

5. Trạng thái cai rượu (F10.3)

- Phải có bằng chứng rõ ràng về việc mới ngừng hoặc giảm sử dụng rượu sau khi đã sử dụng rượu lặp đi lặp lại trong một thời gian dài.

- Các triệu chứng và dấu hiệu tương ứng với các đặc điểm của trạng thái cai.

- Các triệu chứng và dấu hiệu không thể quy kết cho một bệnh nội khoa không liên quan đến việc sử dụng rượu, và không thể quy cho một rối loạn tâm thần hoặc một rối loạn hành vi khác.

- Ba trong các dấu hiệu sau phải có mặt:

·        Run: lưỡi, mi mắt, và khi duỗi tay

·        Vã mồ hôi

·        Buồn nôn hoặc nôn ọe

·        Nhịp tim nhanh hoặc tăng huyết áp

·        Kích động tâm thần vận động

·        Đau đầu

·        Mất ngủ

·        Cảm giác khó ở hoặc mệt mỏi

·        Các ảo tưởng, ảo giác về thính giác, thị giác hoặc xúc giác nhất thời.

·        Động kinh cơn lớn.

          Hội chứng cai rượu kéo dài từ vài giờ đến 3 - 4 tuần tùy mức độ nghiện rượu nặng hay nhẹ.

Chẩn đoán: Trạng thái cai rượu không có biến chứng (F10.30); trạng thái cai rượu với co giật (F10.31) nếu có co giật.

6. Trạng thái cai rượu với mê sảng (Sảng rượu cấp)

Sảng rượu là một rối loạn loạn thần cấp tính xuất hiện ở những bệnh nhân NR mạn tính trên 10 năm (giai đoạn 2) sau khi uống một lượng rượu lớn hoặc ngừng uống rượu đột ngột 1 dến 3 ngày (cai rượu). Sảng rượu là một cấp cứu tâm thần, nếu không được điều trị tỉ lệ tử vong là 20%. Các nhân tố thuận lợi là viêm phổi, suy thận, suy gan, suy tim, bệnh tiêu hoá....

Khoảng 1/3 số trường hợp có hội chứng cai rượu sẽ tiến triển sảng rượu. Các triệu chứng của sảng rượu rất đa dạng:

× Tiền triệu (2 – 4 ngày): run, chán ăn, khát nước, lo sợ.

× Mất ngủ hoàn toàn với biểu hiện mộng thức và kích động.

× Hội chứng paranoid rất rầm rộ với HT bị hại và ảo thị (nhìn thấy các động vật nhỏ như chim, chuột, dơi, kiến, hiếm hơn có các ảo thị ghê rợn gây lo lắng, sợ hãi); có thể có ảo thanh thật có nội dung đe doạ, lăng nhục; ảo giác xúc giác với cảm giác có sâu bọ, côn trùng bò trên da thịt của mình.

× Rối loạn ý thức thường tăng về ban đêm hoặc về sáng sớm với mức độ khác nhau (về định hướng không gian, thời gian) có thể đến mức ý thức u ám và hôn mê.

Ngoài ra có thể gặp các rối loạn thần kinh thực vật (run, giảm trương lực cơ, xung huyết da, tăng tiết mồ hôi, tim đập nhanh, huyết áp dao động) và cơn co giật kiểu động kinh cũng như hành vi tự sát. Các bệnh cơ thể cũng biểu hiện rõ rệt như nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi, viêm tuỵ, viêm túi mật.

Chẩn đoán: Trạng thái cai rượu với mê sảng không có co giật (F10.40); trạng thái cai rượu với mê sảng có co giật (F10.41).

7. Rối loạn loạn thần do rượu (F10.5)

- Khởi phát của các triệu chứng loạn thần phải xảy ra trong khi hoặc trong vòng hai tuần có sử dụng rượu.

- Các triệu chúng loạn thần phải tồn tại hơn 48 tiếng.

- Sự kéo dài của rối loạn này không vượt quá 6 tháng.

Chẩn đoán có thể biệt định kỹ hơn, cụ thể:

+ Rối loạn loạn thần do rượu giống phân liệt (F10.50)

+ Rối loạn loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế (F10.51)

+ Rối loạn loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế (F10.52)

+ Rối loạn loạn thần do rượu chủ yếu đa dạng (F10.53)

+ Rối loạn loạn thần do rượu với các triệu chứng trầm cảm chiếm ưu thế (F10.54)

+ Rối loạn loạn thần do rượu với các triệu chứng hưng cảm chiếm ưu thế (F10.55)

+ Rối loạn loạn thần do rượu  trạng thái hỗn hợp (F10.54)

7.1. Rối loạn loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế (F10.52) (Trạng thái AG do rượu)

Trạng thái AG do rượu có các đặc điểm sau:

Ảo thanh chiếm ưu thế (tiếng nói đe doạ, lăng nhục);

Ảo thanh chi phối hành vi, bệnh nhân mất khả năng phê phán AG. AG dẫn đến các hành vi có tính chất nguy hiểm cho bản thân và người xung quanh (đập phá, đốt nhà, giết người, tự sát);

Không có rối loạn ý thức;

Tiến triển cấp tính (vài ngày đến 1 tháng), bán cấp (1-3 tháng) hay mạn tính (trên 3 tháng);

Đôi khi có HT bị truy hại, HT liên hệ nhất thời.

7.2. Rối loạn loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế (F10.52) (Hoang tưởng do rượu)

Paranoia do rượu thường gặp là HT ghen tuông, phát triển dần trên một nhân cách thoái hoá do rượu; Paranoid do rượu phần nhiều là HT bị truy hại và các HT cảm thụ. HT ghen tuông và HT bị truy hại là những triệu chứng chủ yếu. Nội dung của HT liên quan đến các sự vật có thật xung quanh bệnh nhân như vợ, con, hang xóm, đồng nghiệp và bạn bè. Người bệnh rất đa cảm, luôn hoảng sợ, HT thường chi phối hành vi và thường là hành vi tấn công người khác. Các ảo thanh hoặc ảo thị thường kèm theo hoảng sợ. Các HT có thể tiến triển cấp tính (3-4 tuần), bán cấp tính (2-3 tháng) hoặc mạn tính (trên 3 tháng đến hàng năm).

8. Bệnh loạn thần Korsakov – Hội chứng quên

Đây là một bệnh não thực tổn xuất hiện vào giai đoạn cuối của bệnh NR. Biểu hiện chủ yếu là:

Hội chứng mất nhớ nặng (không tiếp nhận được các thông tin mới, nhớ bịa);

Viêm nhiều dây thần kinh do thiếu các vitamin nhóm B.

9. Giả liệt tuần tiến do rượu

Đây cũng là một bệnh não thực tổn mạn tính do rượu, rất nặng nhưng hiếm gặp. Bệnh cảnh lâm sàng giống như bệnh liệt toàn thể tiến triển do giang mai. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vitamin nhóm B trầm trọng. Biểu hiện giảm chú ý, giảm trí nhớ, HT khuếch đại, tổn thương thần kinh khu trú (yếu đầu chi, khó nói, rối loạn phản xạ). Các rối loạn này tiến triển ngày càng nặng cả khi trạng thái nhiễm độc rượu đã qua, điều trị không có kết quả.

10. Giả viêm não Gayet – Wernicke

Bệnh não thực tổn do rượu Gayet – Wernicke là một bệnh mạn tính, hiếm gặp, biểu hiện bằng trạng thái lú lẫn, hưng phấn ngôn ngữ, vận động, cơn co giật kiểu động kinh, rối loạn trí nhớ kiểu Korsakov và các tổn thương khu trú thần kinh (mất phối hợp vận động, triệu chứng ngoại tháp, rối loạn vận nhãn).

IV. ĐIỀU TRỊ

1. Điều trị trạng thái cai rượu

-         Cắt rượu hoàn toàn.

-         Sử dụng Benzodiazepine đường tiêm hoặc đường uống: Seduxen x 10 – 20 mg/ngày tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, hoặc uống.  Có thể dùng alprazolam (Xanax), và lorazepam (ATIVAN).

-         Bù nước - điện giải cho bệnh nhân đầy đủ, kịp thời: Ringer lactat, NaCl 0,9%, Glucose 5%  truyền tĩnh mạch (2-4 lít/ngày), uống Orezol.

-         Vitamin nhóm B liều cao: vitamin B1 x 500-1000mg/ ngày, vitamin B6 x 200-400mg/ngày, vitamin B12 1000-2000 µcg/ngày.

-         Thuốc hỗ trợ: Chẹn Beta chẳng hạn như propranolol (Inderal) và atenolol (TERNOMIN), đôi khi được sử dụng kết hợp với benzodiazepines. Nó làm chạm nhịp tim và giảm run, cũng có thể làm giảm cơn thèm rượu. Có thể dùng Clonidin làm giảm trạng thái cai.

-         Sử dụng thuốc kháng động kinh nếu có co giật: Carbamazepin, Depakin, Phenobarbital,...

-         Nếu trạng thái cai rượu với mê sảng, hoang tưởng ảo giác rầm rộ: dùng Haloperidol 5mg x 1-2 ống/lần x 1-2 lần.

-         Điều trị các bệnh cơ thể kết hợp.

-         Đảm bảo thông khí, đề phòng trụy tim mạch.

-         Đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân.

-         Điều trị chống tái nghiện: Disulfiram (Esperal), Naltrexon, Acamprosate, điều trị tâm lý xã hội.

2. Điều trị rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu

- Thuốc an thần kinh:

          Haloperidol 5 – 20 mg/ngày

          Risperidon 2 - 6 mg/ngày

          Olanzapin 10 – 20 mg/ngày

          Solian 200 – 600mg/ngày

          Quetiapine 100 – 600 mg/ngày

- Thuốc giải lo âu, gây ngủ: Benzodiazepine,…

- Thuốc chống trầm cảm (nếu có):

          Fluoxetin 20 – 40 mg/ngày

          Paroxetin 20 mg/ngày

          Sertralin 50 – 150mg/ngày

          Venlafaxin 75 – 150 mg/ngày

- Thuốc chỉnh khí sắc: Depakin, Carbamazepin,…

- Thuốc hỗ trợ: Vitamine nhóm B, Piracetam, …..

3. Điều trị chống tái nghiện:

Để giúp người nghiện cai được rượu, trong y học có dùng một số thuốc.

- Naltrexon (các biệt dược: danapha, nalorex, trexan…).

Bản chất naltrexon là thuốc đối kháng với morphin. Người ta thường dùng thuốc này để hỗ trợ cai nghiện ma túy. Để cai nghiện rượu, một số nước có dùng natrexon cho người nghiện rượu uống hàng ngày. Thuốc được cho là có tác dụng sửa chữa rối loạn hệ thần kinh như làm tăng hoạt động của chất sinh học dẫn truyền thần kinh là GABA, làm giảm sự thèm rượu của người nghiện. Tuy nhiên, hiệu quả không cao vì người nghiện rất khó tuân thủ điều trị dài ngày. Viên: 50 mg, liều dùng: 50 mg/ngày, uống hàng ngày hoặc 100 mg uống cách nhật.

- Disulfiram (các biệt dược: esperal, abstinyl, antabuse, anticol, refusal…).

Đây là loại thuốc theo kiểu “lấy độc trị độc” (có bán trên thị trường) dùng để cai rượu nhưng tiềm ẩn nhiều mạo hiểm, nếu không có sự điều trị và theo dõi của thầy thuốc, thì không được tự ý sử dụng. Cơ chế tác dụng của thuốc như sau: khi uống rượu vào cơ thể, nó được chuyển hóa qua nhiều giai đoạn, trong đó có chuyển thành chất acetaldehyd rồi sau đó chuyển thành carbonic (CO2) và nước (H2O) để được loại ra khỏi cơ thể. Vì acetaldehyd rất độc sẽ làm cho người đã uống disulfiram mà lại uống rượu sẽ bị ngộ độc như: tim đập nhanh, buồn nôn, nôn mửa, mặt đỏ bừng, vã mồ hôi, nhức đầu chóng mặt, hạ huyết áp… Chính những tác động rất khó chịu này khiến cho người nghiện rượu thấy ghê sợ rượu mà không muốn uống nữa. Nếu dùng disulfiram đúng liều, đúng cách, có sự chỉ dẫn và theo dõi của bác sĩ điều trị thì thuốc chỉ gây độc ở mức khó chịu có giới hạn làm cho người nghiện chán rượu. Nhưng nếu tự ý dùng không đúng thì nó có thể gây ra tai biến trầm trọng, nguy hiểm tới tính mạng. Bởi vậy muốn cai rượu, người nghiện cần phải khám sức khỏe, nếu có một số bệnh tim mạch, xơ gan, suy thận, suy tuyến giáp, động kinh, đái tháo đường, phụ nữ có thai… thì không dùng được disulfiram.

Để trị được chứng nghiện rượu, thuốc phải dùng lâu dài để đạt tới phản xạ có điều kiện nhìn thấy rượu là sợ, nhưng điều tiên quyết là người nghiện rượu phải có ý chí, quyết tâm cai rượu, tránh tái nghiện. Đặc biệt người trong gia đình (vợ chồng, cha mẹ, anh em…) không nên mua disulfiram trộn vào rượu, người nghiện không biết uống vào, thì các triệu chứng ngộ độc sẽ diễn ra ở mức rất nặng phải đi cấp cứu như nhiều trường hợp đã từng xảy ra trong những năm vừa qua.

- Ngoài ra, còn có metronidazol (thuốc điều trị ký sinh trùng đơn bào và các vi khuẩn kỵ khí) với các biệt dược như klion, medazol, nidazol… cũng có thể dùng vào cai nghiện rượu. Metronidazol cũng có tác dụng ức chế chuyển hóa rượu gây ra các sản phẩm chuyển hóa dở dang giống disulfiram, làm cho người nghiện sợ uống rượu.

Acamprosal (các biệt dược: aotal, zulex, dẫn xuất muối Ca: campral).

Đây là thuốc mới dùng để cai rượu. Cơ chế làm giảm sự uống rượu hiện nay vẫn chưa được giải thích một cách rõ ràng, nhưng thuốc được thừa nhận làm giảm sự thèm muốn uống rượu, đặc biệt khi có sự hỗ trợ của bác sĩ. Mấy năm trước đây, Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm FDA (Mỹ) đã chính thức cho phép lưu hành thuốc acamprosal vào việc chữa nghiện rượu. Khác với disulfiram, acamprosal không gây độc khi đang uống thuốc mà vẫn uống rượu. Thuốc không bị chuyển hóa ở gan vì vậy không cần giảm liều đối với người bệnh suy gan. Tuy vậy, thuốc cũng có một số tác dụng phụ như: nhức đầu, buồn nôn, chán ăn, tiêu chảy, mất ngủ, mẩn ngứa…

Amitryptilin (các biệt dược: elavil, lavate, meravil…) là loại thuốc chống trầm cảm, an dịu mạnh. Người nghiện rượu dùng thuốc này sẽ không bị hội chứng cai, không bị trầm cảm, ăn ngủ tốt, hạn chế tìm đến rượu. Nhưng điều căn bản là người nghiện phải có quyết tâm từ bỏ rượu và dùng thuốc để hỗ trợ cai nghiện. Viên 25 mg, liều lượng:  25 – 100 mg tùy theo đáp ứng của từng người bệnh.

 Người nghiện rượu rất dễ tái nghiện, nếu không dùng thuốc thì trong một thời gian ngắn đâu sẽ vào đấy, cần phải điều trị phòng tái phát lâu dài và đòi hỏi người nghiện phải có ý chí, quyết tâm cao từ bỏ rượu. Tất cả các thuốc điều trị nghiện rượu đều có tác dụng phụ với mức độ khác nhau, thậm chí nặng nề, chứ không có thuốc nào hoàn toàn vô hại. Bởi vậy, tốt nhất phải được bác sĩ khám để có các chỉ định dùng thuốc cai rượu một cách thích hợp. Và nếu được dùng thì phải theo đúng chỉ dẫn.

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét