Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Tôn giáo- lý giải theo triết học tại vn

Về sự cần thiết phải có một tôn giáo chính thống ở Việt Nam

Về sự cần thiết phải có một tôn giáo chính thống ở Việt Nam
Tôi là người không thuộc phe phái nào, cũng không phải là người truyền giáo, mục đích của tôi không phải làm lợi cho bất cứ thành phần chính trị hay tôn giáo riêng biệt nào, mà là cho tất cả mọi người. Với kiến thức còn hạn hẹp và cách hành văn rông dài có thể gây khó đọc cho nhiều người, nhưng hi vọng sẽ giúp đỡ cho bất kỳ ai khi đọc nó sẽ tìm ra được hướng đi cho chính mình.


Về cơ bản, con người không thể sống thiếu tín ngưỡng mang tính giáo điều, trong những tín ngưỡng mang tính giáo điều, tín ngưỡng đáng khuyến khích hơn cả là niềm tin tôn giáo. Và cũng dễ nhận thấy rằng không có xã hội nào thịnh vượng lên được mà không có cùng chung tín ngưỡng. Lịch sử đã chứng minh, và không như chúng ta vẫn lầm tưởng, ở những thời điểm hưng thịnh của một xã hội nào đó, chính tôn giáo chứ không phải là sự sự phục tùng ngoan ngoãn của người dân đối với một sự cai trị chuyên chế nào đó khiến nó thịnh vượng.
Sự vô tín ngưỡng là điều đột xuất, chỉ có niềm tin tôn giáo mới là trạng thái bất biến của nhân loại. Việt Nam là một trong những đất nước có ít niềm tin vào tôn giáo nhất trên thế giới. Ở đây mọi người hầu hết là vô tín ngưỡng, hoặc có niềm tin theo tôn giáo một cách không chính thức. Chúng ta cứ tưởng rằng khi nhìn hàng ngàn người chen chúc nhau đi chùa đầu năm, đầu tháng thì chứng tỏ đất nước có một niềm tin tôn giáo mãnh liệt lắm, và cũng ngỡ khi hầu hết các làng quê Việt Nam đều có xây đựng ít nhất một cái chùa thì hẳn tôn giáo phát triển thịnh vượng trên mảnh đất này.
Nhưng tôi nhận thấy càng ngày con người Việt Nam càng tách rời xa tôn giáo. Trên gương mặt những con người này, tôi không thấy có sự thỏa mãn hay sự yên bình như những người dân tộc khác. Tôi đã quan sát thấy điều đó, họ bước ra từ cổng chùa hay nhà thờ như thể chỉ muốn ra khỏi nơi đó càng nhanh càng tốt. Nhịp sống hối hả, chạy theo nhu cầu vật chất đang làm chết mòn dân tộc ta, sống mà chưa được bình an, chết cũng chưa được yên nghỉ. Dân tộc ta bước ra ngoài thế giới mà không có sự chuẩn bị nào phù hợp cho chính mình, chúng ta chỉ nắm bắt cái bề nổi của dân tộc khác mà quên đi cái sâu xa bao đời của họ, ta nhập một lô lốc các thứ từ bên ngoài mà rồi vẫn chưa thỏa mãn.
Thiếu vật chất ta có thể bán tài nguyên đi và mua về dễ dàng nhanh chóng, nhưng thiếu tinh thần, dù có tiền chưa chắc ta mua nổi. Chủ nghĩa duy vật có những ý nghĩa và tính đúng đắn của nó, nhưng tôi lại thấy vô vàn những điều làm tôi thấy chúng nguy hại. Nếu hệ thống đó có chút gì là hữu ích cho con người, tôi nghĩ rằng đó có thể là tạo ra ở con người một ý thức khiêm nhường về bản thân mình. Với dân tộc nào cũng vậy, chủ nghĩa duy vật là một căn bệnh nguy hiểm cho tinh thần con người; nhưng cần đặc biệt biết sợ nó khi nó xuất hiện ở quốc gia mà con người còn thiếu thốn vật chật bởi vì khi đó nó kết hợp tuyệt vời với những tật xấu trong tình cảm con người rất phổ biến trong nhân dân quốc gia đó.
Tôi thấy mọi người khắp quanh tôi luôn lo lắng, kêu gào, từ người già cho đến đứa trẻ. Tôi nghe tiếng người già luôn chửi bới thời thế, lầm bầm những chuyện khiến họ phải suy nghĩ, từ chuyện con cái đối xử với họ không ra gì, đến chuyện nhà bên làm được nhà to hơn. Tưởng đùa hóa ra tuổi của họ vẫn còn sự đố kỵ. Tôi nghe tiếng những bà vợ kêu than với nhau về đức ông chồng hay nhậu nhẹt, ông chồng thì viện cớ buồn nên phải nhậu. Tôi cũng nghe những chàng thanh niên mới lớn thất tình buồn bã, kêu gào, than khóc tưởng như có thể chết.
Xa hơn, tôi nghe vô số những bà nội trợ kêu than thực phẩm kém chất lượng, đắt đỏ. Người tiêu dùng kêu toàn dùng phải hàng giả, hàng nhái. Xã hội ai cũng kêu gọi muốn được dân chủ, công bằng… tiếng kêu vọng khắp tứ phía, lúc nào tôi cũng nghe thấy, và ai ai cũng đều biết, đều nghe thấy. Bên cạnh đó, tôi lại cũng nghe được những tiếng cười khắp nơi, họ cười vì một phi vụ thực hiện thành công, họ cười vì được gặp mặt mọi người, họ cười vì họ được gào thét hát hò thỏa thích… nhưng có vẻ nụ cười của họ sẽ tắt ngấm sau những cuộc vui đó.
Trở lại với đời thường, họ lại than khóc, kêu gào, lạc lối. Hai cảm xúc trái ngược đó của họ cứ lên xuống nhịp nhàng, bất ổn, họ không có sự an bình nào thực sự, luôn cảm thấy thiếu một thứ gì đó mà không định nghĩa được. Có một điều chắc chắn, họ thiếu niềm tin, bởi họ chẳng biết tin ai. Ông chính khách nói: “Hãy tin tôi, anh sẽ có sự công bằng,” người bạn nói:”Hãy tin tôi và cho tôi vay tiền,” nhưng rốt cuộc mọi người đều lừa dối họ, họ đâm ra ngày càng nghi ngờ hơn, họ lạc lối, mất phương hướng. Và họ tiếp tục kêu gào, đau khổ, họ cúi đầu xuống đất chứ không ngước lên trời, khuôn mặt họ thêm khắc khổ.
Có một thứ có thể đánh tan nghi ngờ của họ, có một thứ để họ có thể đặt trọn niềm tin mà không bao giờ sợ bị lừa dối, đó là tôn giáo thuần túy. Tại sao tôi gọi là tôn giáo thuần túy? Thuần túy ở đây nghĩa là tôn giáo mà không phải chịu liên minh với bất kỳ một thế lực nào, bởi khi liên minh với các thế lực khác nhau, tôn giáo chỉ có thể tạo ra những liên kết tốn kém, tôn giáo chẳng cần đến chúng mà vẫn sống, nhưng khi đi phục vụ chúng thì tôn giáo lại có thể chết.
Bởi tôn giáo là niềm tin, chúng ta nên xây dựng một tôn giáo cho chính chúng ta để dựa vào, và rằng, thà tự huyễn hoặc và tin là tôn giáo là đúng đắn thì cũng chẳng mất mát gì nhiều đâu; nhưng đau khổ biết bao khi tự huyễn hoặc mình và tin rằng tôn giáo đó là giả dối. Chính những học giả lại là người có nhiều nghi ngờ về vấn đề tôn giáo, những ai có một ít triết học thường rời xa tôn giáo, còn những ai nhiều triết học lại quay trở về với tôn giáo. Có rất nhiều trường hợp ví dụ về câu nói này nhưng xin để mọi người tự tìm hiểu.
Xin nhắc lại về ý trên, ta thường thấy vào các ngày đầu năm, ngày lễ có vô số người tập trung đi lễ ở các chùa, đền lớn, tôi xin nhấn mạnh chữ lớn này để chỉ ra một vài điểm phi tôn giáo mà rất nhiều người vẫn hiểu nhầm. Điều sai lầm quan trọng nhất mà mọi người mắc phải, đó là đi chùa cầu tài lộc, phải nói hầu hết mọi người đi chùa, lễ Phật chỉ mong cầu tài lộc, nhưng xin nhắc cho là Phật không thể ban tài lộc cho mọi người, Ngài chỉ có thể ban cho con người sự an bình trong tâm họ mà thôi. Tôi thiết nghĩ nếu Phật có thể ban vật chất cho họ, chắc Ngài sẽ không cho bừa bãi bởi vật chất là thứ sẽ nảy sinh lòng tham trong mỗi con người, “vật chất quyết định ý thức” nhưng ý thức sẽ quyết định đời sống.
Điểm phi tôn giáo tiếp theo là quan niệm đi lễ chùa này thiêng hơn chùa kia, chùa có nhiều người đi ắt sẽ linh ứng hơn, đó cũng là một quan niệm sai lầm, bởi Phật đối với chúng sinh là ngang bằng, và chúng sinh cũng không nên coi một ông Phật được đúc bằng vàng sẽ đẹp hơn một ông Phật gỗ bình thường. Mọi người tìm Phật ở đâu xa mà không biết Phật chính trong tâm mình, đã bị quá nhiều thứ cám dỗ và nhục cảm che mờ mất, họ cứ tìm, tìm mãi mà không thấy, cuối cùng họ đau khổ và chết dần chết mòn. Trên là những quan điểm nhầm lẫn tai hại ở đất nước ta, ngoài ra có thể kể đến vô số những điểm khác như trải tiền tràn lan trong nhà chùa, đốt vàng mã vô tội vạ, trừ tà giải hạn … đó chỉ là những tín ngưỡng gây hại, xin khẳng định lại, đó là phi tôn giáo.
Từ những lập luận trên, tôi cho rằng Việt Nam cần có một tôn giáo chính thống. Tất nhiên chúng ta cho tự do tôn giáo và han chế tối đa sự xung đột giữa các tôn giáo, có hai nguyên nhân đe dọa sự tồn tại của tôn giáo: đó là sự chia rẽ và sự dửng dưng. Từ những chiêm nghiệm, suy ngẫm về những phong tục tập quán của người Á Đông, với những tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên, bản chất con người Việt Nam, tôi mạnh dạn đề xuất một tôn giáo chính thống cho Việt Nam đó là Phật giáo, có thể nhiều người sẽ sẽ phản đối ý kiến của tôi.
Trước hết, đó là ý kiến của tôi được đúc rút từ sự nghiên cứu sâu sắc về thực trạng xã hội chúng ta hiện nay, và cả những kiến thức tôi tìm hiểu được ở các tôn giáo khác nhau. Tôi thực sự muốn một xã hội được tự do tôn giáo, các tôn giáo khác như Kitô giáo vẫn nên được phát triển, sẽ không có chuyện hạn chế và xung đột, mọi người có thể nghiên cứu và chọn cho mình một tôn giáo phù hợp với mình nhất. Bởi đa số dân nước ta là phi tôn giáo, không có bất cứ một niềm tin nào, nhiều người chết mà chưa hề được sống.
Phật giáo có những điều kiện để hưng thịnh lại ở nước ta, mọi người chỉ cần quan tâm và thực hiện đúng đắn với những lời dạy của Phật. Hiện nay tôi thấy trong các tỉnh phía Nam có các khóa tu trong chùa trong vài ngày hoặc vài tuần, đó là những việc làm rất hay, sau khi về tôi tin chắc tâm họ sẽ bình an hơn chút ít, còn để muốn bình an thực sự họ cần thường xuyên tu hành hơn, cũng như thường xuyên tin ở Chúa đối với đạo Kitô. Một đất nước muốn bình an, thì chính con người trong đất nước đó phải luôn cảm thấy bình an. Một đất nước không cần thiết phải có một nửa dân số tu hành xuất gia, mà chỉ cần một nửa dân số đó tu hành tại gia một cách đúng đắn thì đất nước đó cũng trở nên thịnh vượng, chỉ cần một nửa các nhà lãnh đạo có tâm thực hướng thiện tôi tin nhân dân của đất nước đó sẽ hạnh phúc hơn rất nhiều.
Tôi không muốn xảy ra một cuộc cách mạng đẫm máu, cũng không muốn lật đổ một chế độ nào đó, bởi khi cái suy nghĩ trong con người vẫn con u mê, tăm tối, những cuộc cách mạng xảy ra chỉ đắm chìm trong máu và nước mắt. Cái hại sẽ nối tiếp cái hại, cái xấu vẫn duy trì, con người vẫn đau khổ, luôn cảm thấy không đủ, không thỏa mãn, cái tôi muốn thực sự chỉ là một cuộc cách mạng về tâm linh.
Tôi sẽ vẽ ra những viễn cảnh tươi đẹp khi chúng ta thực sự có niềm tin vào tôn giáo. Tuy là có những vọng tưởng được cho là không thực tế nhưng điều đó vẫn có khả năng xảy ra, và tôi tin chắc chắn nó sẽ thực hiện được nếu chúng ta thực sự muốn thay đổi. Khi đó tôi sẽ nghe thấy tiếng cười đùa vô tư của các cụ già, tiếng yêu thương của các cặp vợ chồng, con người nhường nhịn nhau trong các vụ tranh chấp. Tôi sẽ nhìn thấy trên ánh mắt ngời sáng của mọi người những hi vọng, niềm tin mãnh liệt. Tôi sẽ cảm nhận được vô vàn tình thương yêu đồng loại. Người bán hàng trước khi bán một món hàng đều nghĩ món hàng sẽ lợi ích hay độc hại với đồng bào của mình. Người lãnh đạo sẽ tận tâm cho đất nước, nhân dân chứ không chỉ cho riêng mình. Người cha sẽ yêu thương con của mình và cả những đứa trẻ khác. Trên tất cả, mọi người đều cảm thấy bình an và cùng ngẩng đầu nhìn lên trời cao với khuôn mặt hạnh phúc.
Trong bài viết sử dụng nhiều từ tôi muốn, có lẽ cái bản ngã trong tôi vẫn còn nhiều, nhưng đó là những điều tôi muốn cho tất cả mọi người, không chỉ là cho riêng mình. Tôi chưa phải là một Phật tử đúng nghĩa, nhưng tôi tin có Phật. Tôi chưa phải là một tín đồ Kitô giáo, nhưng tôi nhận thấy sự hiện diện của Chúa. Và những vị đó đang mỉm cười với tôi.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét